Mức độ tập trung cư trú của nông dân nông thôn không bằng thành phố, cường độ sản xuất nước thải sinh hoạt thấp hơn thành phố, tài chính của làng và xã nghèo, thu nhập của nông dân thấp, nên khuyến khích sử dụng công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt đa dạng, kinh tế, đơn giản, hiệu quả và kết hợp càng nhiều càng tốt với sản xuất nông nghiệp địa phương, thiết bị xử lý nước thải sinh hoạt để đạt được xử lý vô hại và sử dụng tài nguyên nước thải.
Trong những năm gần đây, các quy trình xử lý nước thải sinh hoạt nông thôn khác nhau, nhưng tất cả đều là sự kết hợp khác nhau của các công nghệ xử lý đơn vị. Các kỹ thuật thực tế để xử lý nước thải nông thôn bao gồm bể tự hoại, bể biogas làm sạch nước thải, bể sục khí thông thường, lò phản ứng sinh học theo thứ tự, rãnh oxy hóa, bể oxy hóa tiếp xúc sinh học, đất ngập nước nhân tạo, xử lý đất và ao sinh thái, v.v. Căn cứ vào yêu cầu chức năng nạp nước, kết hợp với tình hình kinh tế khu vực nông thôn, cơ sở hạ tầng, hoàn thiện điều kiện môi trường tự nhiên và hướng thoát nước, lựa chọn kỹ thuật xử lý thích hợp với địa phương.
Quy trình xử lý nước thải sinh hoạt nông thôn:
Quá trình oxy hóa tiếp xúc sinh học, SBR, A/O và A2/O, v.v.
Nguyên tắc làm việc của thiết bị xử lý nước thải sinh hoạt nông thôn:
Việc loại bỏ các chất ô nhiễm hữu cơ và amoniac chủ yếu phụ thuộc vào quá trình xử lý sinh học AO trong thiết bị. Một trong những nguyên tắc làm việc là ở mức A, do nồng độ chất hữu cơ trong nước thải rất cao, vi sinh vật ở trạng thái thiếu oxy, tại thời điểm này vi sinh vật là vi sinh vật bán thời gian, vì vậy bể bơi A không chỉ có chức năng loại bỏ chất hữu cơ nhất định, giảm tải hữu cơ của bể hiếu khí tiếp theo, nồng độ chất hữu cơ giảm, nhưng vẫn có một lượng chất hữu cơ nhất định và sự hiện diện của NH3-N cao hơn. Để các chất hữu cơ được oxy hóa và phân hủy hơn nữa, đồng thời quá trình nitrat hóa dưới tác dụng cacbonat có thể diễn ra suôn sẻ, bể oxy hóa tiếp xúc sinh học hiếu khí với tải trọng hữu cơ thấp được đặt ở mức O. Trong hồ bơi cấp O chủ yếu tồn tại vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn tự oxy (vi khuẩn nitrat). trong đó các vi sinh vật hiếu khí phân hủy các chất hữu cơ thành CO2 và H2O; Vi khuẩn tự dưỡng (Nitrobacter) chuyển NH3-N từ nước thải thành NO-2-N, NO-3-N, một phần nước thải của bể O chảy ngược trở lại bể A, cung cấp chất tiếp nhận điện tử cho bể A để loại bỏ ô nhiễm nitơ thông qua hành động khử nitrat bằng cách sử dụng carbon vô cơ từ quá trình phân hủy chất hữu cơ hoặc CO2 trong không khí làm nguồn dinh dưỡng.
